Chuyên Mục "Giáo Lý"

Chủ đề: Dấn thân - Chinh phục

Nhằm hướng tới sự phát triển về tự nhiên và siêu nhiên của các em ngành Nghĩa sĩ, Hiệp sĩ và gia tăng sự gắn kết giữa các đoàn trong Hiệp đoàn, Ban Điều Hành Hiệp đoàn đã tổ chức trại hè Nghĩa - Hiệp.

Sau bao ngày chờ đợi, thứ Bảy ngày 13/8/2022, sân bóng cạnh nhà thờ giáo xứ Ngô Khê được nhuốm 3 màu rực rỡ: vàng, nâu và đỏ. Trại hè Nghĩa - Hiệp đã chính thức diễn ra trong bầu khí háo hức, sôi nổi nhiệt tình của gần 300 tham dự viên đến từ 14 đoàn trong Hiệp đoàn Chiên Thiên Chúa Bắc Ninh.

Giờ chào cờ diễn ra vào lúc 7h30p với sự hiện hiện của cha Đaminh Nguyễn Xuân Trường, Chánh xứ Giáo xứ Ngô Khê, Trưởng Hiệp đoàn Maria Lương Thuỳ Linh, Nguyên Trưởng Hiệp đoàn Phanxico Vũ Quang Hảo và các anh chị Huynh trưởng trong BĐH Hiệp đoàn.

Trong câu chuyện dưới cờ, qua hình ảnh đại bàng con thoát khỏi cái bóng của một con gà để vút bay lên trời xanh, cha Đaminh hi vọng gần 300 bạn đang diện tại đây sẽ mạnh mẽ từng ngày vỗ cánh bay lên trời cao. Bởi chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa, mang giẩm giá và dòng máu của Thiên Chúa, mạnh mẽ tiến lên dấn thân và phục vụ.

"Làm việc Tông đồ" - đây cũng là ý lực sống mà Trưởng Hiệp đoàn Maria Lương Thuỳ Linh chia sẻ với các bạn trong trại hè ngày hôm nay.

Trong buổi sáng ngày hôm nay, các tham dự viên được chia làm 12 đội và tham các hoạt động như: thi cắm trại, team bulding, thi nấu cơm...để củng cố kiến thức, kỹ năng. Qua đó thể hiện tinh thần của người Nghĩa sĩ, cũng như Hiệp sĩ.

Nguyện xin Thiên Chúa quan phòng, chở che cho hai ngày trại hè được diễn ra một cách thuận lợi, tốt đẹp. Chúc các bạn tham sự viên sẽ cháy hết mình, bắt lấy cơ hội để biến đổi từ gà con trở thành đại bàng vươn cao mình tiến lên làm chứng cho Thiên Chúa.

- Hiệp Đoàn Chiên Thiên Chúa Hạt Bắc Ninh -













Điện ảnh Hollywood thường miêu tả các thiên thần như những em bé xinh xắn trần truồng bay lượn trong không trung hoặc như những sinh vật huyền bí vụng về cố ẩn mình khỏi con người. Một câu chuyện khá phổ biến là các thiên thần cố gắng để được có đôi cánh bằng cách làm những việc tốt cho con người trên trái đất. Nếu thiên thần thành công trong sứ mạng của mình, Thiên Chúa sẽ ban cho họ đôi cánh.


Thậm chí, một số bộ phim còn miêu tả các thiên thần như là những người đã chết, tức là những người phải giành được phần thưởng vĩnh hằng của họ trước khi bước vào cổng thiên đường.

Giáo hội Công giáo bác bỏ tất cả những điều đó. Trước hết, con người không phải là những thiên thần và họ không bao giờ có thể trở thành thiên thần, giống như loài vật không bao giờ trở thành con người và thực vật không bao giờ trở thành động vật vậy. Khi con người qua đời và lên thiên đàng, họ được gọi là thánh.

Thiên thần là những thần lành đã sống trên thiên đàng rồi. Họ chưa bao giờ là người trong một đời sống nào đó trước đây. Thử thách của họ đã diễn ra trước khi Thiên Chúa tạo ra trái đất hay Adam và Eva.

Không ai giành được đường lên thiên đàng. Pêlagiô là một lạc thuyết cho rằng bất cứ ai cũng có thể tạo ra con đường cứu độ của riêng họ.

Vào thế kỷ V, Thánh Augustinô kịch liệt phản đối ý tưởng này. Ngài dạy rằng bất cứ việc tốt lành nào, một công việc của lòng thương xót về thể xác hay thiêng liêng, chỉ có thể được thực hiện một cách hiệu quả nhờ quyền năng ơn sủng của Thiên Chúa.

Trong khi Martin Luther đề xuất ý tưởng về duy đức tin (sola fide), thì Thánh Augustinô có lẽ thích ý tưởng về duy ơn sủng hơn (sola gratia). Ơn sủng cần thiết để đón nhận và bền bỉ trong đức tin và để thi hành các việc tốt lành đáng khen ngợi.

Việc nói các thiên thần giành được đôi cánh cho mình là một lối nói uyển ngữ và nhân cách hoá. Là những thực tại tinh thần không thân xác, các thiên thần thực sự không cần, và cũng không có cánh. Nghệ thuật tôn giáo mô tả các thiên thần với đôi cánh và các thánh với hào quang, cả hai đều là những chi tiết được sử dụng để tượng trưng cho một cái gì đó không thể nhìn thấy được với mắt thường của con người.

Trong bộ phim “It’s A Wonderful Life”, thiên thần Clarence cần phải cứu George Bailey để giành được đôi cánh của mình. Nếu thực sự là một thiên thần hộ thủ, Clarence đã có “đôi cánh” của mình rồi. Là một thiên thần, Clarence chắc hẳn đã lên thiên đàng, và không cần phải làm gì để chứng minh bản thân nữa.


Kinh thánh là câu chuyện về Giao Ước giữa Thiên Chúa và loài người. Câu chuyện về một Thiên Chúa yêu thương con người vô bờ bến và câu chuyện về con người, là những người không bao giờ được phép quên Giao ước mà Thiên Chúa muốn ký kết với họ mãi mãi.

Thiên Chúa không mệt mỏi hồi sinh dân tộc của mình và đổi mới kế hoạch liên kết của Ngài với họ. Những bản trình thuật trong Cựu Ước làm chứng cho điều này. Với sự xuất hiện của Chúa Giêsu Kitô, trong Tân Ước, Thiên Chúa đích thân đến gặp gỡ nhân loại để ký kết với họ một Giao ước mà lần này là dứt khoát và vĩnh cửu.

Kinh thánh, nơi gặp gỡ Thiên Chúa

Tin vào Thiên Chúa là chuyện khá đơn giản, chỉ cần nói “đồng ý” với sự Liên kết này: tìm kiếm Thiên Chúa và chuẩn bị sẵn sàng để đón chào Ngài. Kinh thánh là nơi gặp gỡ Thiên Chúa. Đó là sự nuôi dưỡng cần thiết cho đức tin. Nhưng bắt đầu từ đâu?

Chúa Giêsu nói: “Ai thấy Ta là thấy Cha” (Gioan 14: 9). Như vậy, mỗi cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, mỗi lời nói, mỗi hành động của Ngài đều nói lên điều gì đó về Thiên Chúa. Do đó, những câu chuyện của các thánh sử trong các sách Tin Mừng là cửa ngõ để khám phá Thiên Chúa qua Chúa Kitô.

Lấy ví dụ câu chuyện của người phụ nữ Samaria (Gioan 4). Chúa Giêsu xin chị ấy cho uống nước “Chị cho tôi xin chút nước uống!” (Gioan 4: 7). Chúa Giêsu khao khát được gặp cô ấy! Đổi lại, cô ấy xin Ngài ban cho nguồn nước tạo nên sự sống vĩnh cửu mà Chúa Kitô đã nói “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước” (Gioan 4: 15). Chúa Kitô soi sáng mọi ngõ ngách của cuộc đời chị, chị đã có 5 đời chồng “Chị nói: “Tôi không có chồng” là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng” (Gioan 4: 17)…Chị không cảm thấy bị phán xét mà ngược lại nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Mêsia “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ. Tôi biết Đấng Mêsia, gọi là Đức Kitô, sẽ đến. Khi Ngài đến, Ngài sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự. Đức Giêsu nói: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây ” (Gioan 4: 19, 25), là Đấng làm cho chị đứng dậy, chuyển hướng cuộc đời đi theo sự sống mạnh mẽ hơn, khiến con người lớn lên, hướng tới sự thật hơn, được biến đổi “Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta: “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?” (Gioan 4: 28), và vui mừng làm chứng loan báo Tin Vui cho những người khác “Có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Đức Giêsu, vì lời người phụ nữ làm chứng: ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm. Vậy, khi đến gặp Ngài, dân Samari xin Ngài ở lại với họ, và Ngài đã ở lại đó hai ngày. Số người tin vì lời Đức Giêsu nói còn đông hơn nữa. Họ bảo người phụ nữ: “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Ngài thật là Đấng cứu độ trần gian.” (Gioan 4: 39-42).

Và Giakêu, một người thu thuế bất lương, đã leo lên cây của mình để gặp Chúa Giêsu “Sau khi vào Giêrikhô, Đức Giêsu đi ngang qua thành phố ấy. Ở đó có một người tên là Dakêu; ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có. Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn. Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu, vì Người sắp đi qua đó” (Luca 19:1-4). Khi Chúa Giêsu gọi ông ta và ghé về nhà của ông “Đức Giêsu tới chỗ ấy, thì Ngài nhìn lên và nói với ông: “Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” (Luca 19:5), ông đã lấy lại được phẩm giá của mình “Đức Giêsu mới nói về ông ta rằng: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Ápraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Luca 19: 9-10). Tất nhiên, ông có giá trị nhiều hơn tội lỗi của mình “…mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ! ” (Luca 19: 7).   

Phêrô, người đầu tiên trong số các tông đồ, cũng cảm nghiệm được lòng thương xót của Thiên Chúa qua Chúa Kitô. Ông đã chối Chúa Giêsu ba lần “Họ bắt Đức Giêsu, điệu Ngài đến nhà vị thượng tế. Còn ông Phêrô thì theo xa xa. Họ đốt lửa giữa sân và đang ngồi quây quần với nhau, thì ông Phêrô đến ngồi giữa họ. Thấy ông ngồi bên ánh lửa, một người tớ gái nhìn ông chòng chọc và nói: “Cả bác này cũng đã ở với ông ấy đấy! ” Ông liền chối: “Tôi có biết ông ấy đâu, chị ” Một lát sau, có người khác thấy ông, liền nói: “Cả bác nữa, bác cũng thuộc bọn chúng! ” Nhưng ông Phêrô đáp lại: “Này anh, không phải đâu! ” Chừng một giờ sau, có người khác lại quả quyết: “Đúng là bác này cũng đã ở với ông ấy, vì bác ta cũng là người Galilê .” Nhưng ông Phêrô trả lời: “Này anh, tôi không biết anh nói gì! ” Ngay lúc ông còn đang nói, thì gà gáy. Chúa quay lại nhìn ông, ông sực nhớ lời Chúa đã bảo ông: “Hôm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần.” Và ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết” (Luca 22:54-62),  nhưng Chúa Kitô sau khi phục sinh cũng đã ba lần mời gọi ông làm người chăn bầy chiên của Ngài “Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giêsu hỏi ông Simôn Phêrô: “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không? ” Ông đáp: “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy .” Đức Giêsu nói với ông: “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy .” Người lại hỏi: “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy không? ” Ông đáp: “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy .” Người nói: “Hãy chăn dắt chiên của Thầy .” Người hỏi lần thứ ba: “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không? ” Ông Phêrô buồn vì Người hỏi tới ba lần: “Anh có yêu mến Thầy không? ” Ông đáp: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy .” Đức Giêsu bảo: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (Gioan 21:15-17), nghĩa là lãnh đạo Giáo hội của Ngài.

Như vậy, mỗi cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu đều cho thấy một phần nào đó tình yêu vô biên của Thiên Chúa.

Cuộc hẹn của Thiên Chúa với mỗi chúng ta

Madeleine Delbrêl (1904 – 1964), đã từng là một người vô thần, trở thành giáo hữu, và truyền giáo cho các giới theo chủ thuyết Marxist, đã viết: “Tin Mừng không phải là một cuốn sách giống như bất kỳ cuốn sách nào khác. Tin Mừng giống như một cuộc hẹn với Chúa Kitô mà Ngài dành cho mỗi người chúng ta, cho đến tận cùng thời gian; một cuộc gặp gỡ giữa người với người, giữa một trái tim với trái tim, thân tình, cụ thể… Tin Mừng được viết ra trước hết không phải để chúng ta đọc mà thôi mà còn để chúng ta đón nhận”.

Trong bốn thánh sử, thánh Luca là người tường thuật nhiều nhất và có lẽ là dễ hiểu nhất. Thánh Máccô, tường thuật ngắn nhất. Thánh Gioan, biểu tượng nhất và Thánh Mátthêu là người mượn nhiều tài liệu tham khảo nhất từ các sách ​​Cựu ước.

Nhưng một cách tổng quát, Tân Ước là sự ứng nghiệm những gì đã được nói trong Cựu Ước. Tân Ước ẩn mình trong Cựu Ước. Như vậy, hai Giao Ước này đối đáp qua lại với nhau. Nếu Tin Mừng là cánh cửa đi vào nhà dành cho các Kitô hữu, thì Cựu Ước là con đường dẫn đến cánh cửa đó.

Lạy Chúa Kitô, xin Chúa đổ đầy vào lòng con Lời tuyệt vời của Chúa, Lời dẫn đến Chân lý và Tự do đích thực có quyền năng biến đổi con sâu lắng khi con đọc, suy ngẫm và cầu nguyện với Lời Chúa. Xin Lời Chúa thấm đượm lòng con trong giờ tĩnh nguyện và trong đời sống mỗi ngày của con, để con trở thành chứng nhân cho những người chung quanh để họ cũng được Lời Chúa biến đổi. Amen.

Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ,
theo blog.jeunes-cathos.fr

*Người dịch có bổ sung một số câu trích dẫn tử Kinh Thánh.

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Thưa cha, liệu chữ đỏ đã thay đổi khi có lễ Rửa tội trong Thánh Lễ chăng? Hiện giờ, Thánh lễ này bắt đầu với việc tuyên xưng đức tin, thay vì tuyên xưng đức tin sau bài giảng. Điều này bỏ qua lời nguyện mở đầu và kinh Thú nhận (Confiteor, Kinh cáo mình). Đối với tôi đó là một sự gián đoạn, và mỗi khi tôi đi dự Thánh lễ như thế, tôi tự hỏi điều gì sẽ diễn ra tiếp theo. - J. S., Houston, Texas, Hoa Kỳ.

Đáp: Thay vì mạo hiểm đưa ra câu trả lời cá nhân, tôi sẽ trình bày ở đây nhiều trích đoạn từ ba tài liệu, vốn làm rõ quan điểm của Giáo Hội về vấn đề này.

Tài liệu đầu tiên do Tổng Giáo Phận Brisbane, Úc, đưa ra, đã đề cập trong nhiều việc khác nhau vấn đề cho sự phù hợp của sự thực hành này. Xin mời đọc:

"Nghi lễ Rửa tội cho Trẻ em mạnh mẽ khuyến nghị rằng lễ Rửa tội nên diễn ra vào ngày Chúa Nhật, ngày Chúa Phục Sinh, trong một buổi lễ chung cho một số trẻ em. Nó cổ vũ giá trị chào đón các thành viên mới vào Giáo Hội trong một phụng vụ, vốn bao gồm sự tham gia tích cực của cộng đoàn, cũng như âm nhạc, lễ rước, biểu tượng, và tất cả các yếu tố của một lễ kỷ niệm đích thực.

"Cách thức rõ ràng để đáp ứng các khuyến nghị này là đưa lễ Rửa Tội vào Thánh Lễ Chúa Nhật của giáo xứ. Theo Nghi lễ, thực hành này được khuyến khích, bởi vì nó cho phép toàn thể cộng đoàn có mặt, và nêu rõ mối quan hệ giữa Phép Rửa tội và Phép Thánh Thể.

"Điều này có nghĩa là thay vì một nhóm nhỏ gia đình và bạn bè tụ tập khá lúng túng trong một nhà thờ trống rỗng và có lẽ xa lạ, cho một buổi lễ gần như riêng tư được thực hiện trong một độc thoại ảo, họ được chào đón trong cuộc tụ họp vui vẻ của cộng đoàn giáo xứ, nơi đó họ được phục vụ bởi nhiều thừa tác viên, và được hỗ trợ trong lời cam kết của họ.

"Tuy nhiên, Nghi lễ cũng nói rằng lễ Rửa tội vào Thánh lễ Chúa Nhật ‘không nên được thực hiện quá thường xuyên’. Thật vậy, đáng ngạc nhiên là một vài giáo xứ đã làm cho nó trở thành một nét đặc trưng thường thấy trong thực hành phụng vụ của họ. Có một số lý do phổ biến đằng sau cả hai tuyên bố này.

"Từ quan điểm của cộng đoàn thờ phượng, có thể có sự phản kháng đối với Thánh Lễ Chúa Nhật được kéo dài một cách thường xuyên, hoặc phần các bài đọc Chúa Nhật và bài giảng thường bị ngắt bớt. Đối với các linh mục, nhạc công và người đặc trách phụng vụ, là những người đã hoàn toàn bận bịu với các yêu cầu của Thánh Lễ Chúa Nhật, có vẻ như quá nhiều để họ thực hiện".

Tổng Giáo phận sau đó đưa ra một số gợi ý, để tìm ra sự cân bằng giữa hai thực tại trong bối cảnh mục vụ của mình.

Tài liệu thứ hai được công bố năm 1984 bởi Văn phòng Phụng vụ của Hội đồng Giám mục Anh Quốc và Xứ Wales, và tôi tin rằng nó bao gồm hầu hết câu hỏi của độc giả về sự phù hợp và động lực, để thỉnh thoảng cử hành phép Rửa tội trong Thánh Lễ Chúa Nhật.

"Tầm quan trọng của Rửa tội trẻ em:

"1. Thuật ngữ "trẻ em" (Children) hoặc "trẻ sơ sinh" (infants) nói đến các người chưa đến tuổi biện phân, và do đó không thể tuyên xưng đức tin cá nhân của họ.

"2. Ngay từ thời ban sơ, Giáo Hội, mà sứ vụ rao giảng Tin Mừng và sứ vụ Rửa tội được giao phó, đã Rửa tội không những cho người lớn, mà còn cho trẻ em. Chúa chúng ta nói: "Nếu ai không tái sinh trong nước và Chúa Thánh Thần, người đó không thể vào Nước Chúa được”. Giáo Hội luôn luôn hiểu các từ ngữ này có nghĩa là trẻ em không nên bị loại khỏi Rửa tội, bởi vì họ chịu phép Rửa tội trong đức tin của Giáo Hội, một đức tin được cha mẹ và người đỡ đầu tuyên xưng thay cho họ; vì cha mẹ và người đỡ đầu đại diện cho cả Giáo Hội địa phương và toàn thể các thánh và các tín hữu: "Toàn thể Giáo Hội là mẹ của tất cả mọi người và mẹ của từng người".

"3. Để hoàn thành ý nghĩa thực sự của Bí Tích, trẻ em sau đó phải được giáo dục trong đức tin, mà trong đó họ đã chịu phép Rửa tội. Nền tảng của sự giáo dục này sẽ chính là bí tích, mà họ đã tiếp nhận. Sự giáo dục Kitô giáo, vốn là của họ, tìm cách hướng dẫn họ dần dần để học hỏi kế hoạch của Thiên Chúa trong Chúa Kitô, để cuối cùng họ có thể chấp nhận cho mình đức tin, mà trong đó họ đã chịu phép Rửa tội.

"Các thừa tác vụ và vai trò trong lễ Rửa tội:

"4. Dân Thiên Chúa, tức là Giáo Hội, được hiện diện bởi cộng đoàn địa phương, giữ một phần quan trọng trong việc Rửa tội trẻ em và người lớn. Trước và sau khi cử hành Bí tích, đứa trẻ có quyền yêu thương và giúp đỡ cộng đoàn. Trong nghi thức, ngoài các cách tham gia của cộng đoàn đã được đề cập trong phần Dẫn nhập Khai tâm Kitô giáo số 7, cộng đoàn thi hành nhiệm vụ của mình, khi thể hiện sự đồng ý của mình cùng với chủ tế, sau phần tuyên xưng đức tin của cha mẹ và người đỡ đầu. Bằng cách này, rõ ràng rằng đức tin, mà trong đó các em được Rửa tội, không phải là sự sở hữu cá nhân của gia đình riêng, nhưng là tài sản chung của toàn thể Giáo Hội của Chúa Kitô.

"5. Do các mối quan hệ tự nhiên, cha mẹ có một sứ vụ và một trách nhiệm trong việc Rửa tội các trẻ sơ sinh, quan trọng hơn so với người đỡ đầu.

"(1) Trước khi cử hành Bí Tích, điều rất quan trọng là các cha mẹ, được tác động bởi đức tin riêng của mình hoặc với sự giúp đỡ của bạn bè hay các thành viên khác trong cộng đoàn, nên chuẩn bị để tham dự nghi thức với sự hiểu biết. Họ phải được cung cấp các phương tiện thích hợp như sách, thư gửi cho họ, và giáo lý dành cho các gia đình. Cha xứ có bổn phận đến thăm họ hoặc xem họ đã được thăm viếng chưa; cha nên cố gắng tập hợp một nhóm gia đình lại với nhau, và chuẩn bị họ cho lễ Rửa tội sắp tới, bằng lời khuyên mục vụ và cầu nguyện chung.

"(2) Điều rất quan trọng là các cha mẹ phải có mặt trong buổi cử hành, mà trong đó con của họ được tái sinh trong nước và Chúa Thánh Thần.

"(3) Trong cử hành phép Rửa tội, cha và mẹ có các phần đặc biệt để thực hiện. Họ lắng nghe lời mà vị chủ tế nói với họ, họ tham dự cầu nguyện cùng với cộng đoàn, và họ thực hành một sứ vụ chân chính khi:

"a. Họ công khai xin cho con trẻ được Rửa tội;

"b. Họ làm dấu thánh giá trên con, sau khi chủ tế làm dấu thánh giá trên con trẻ;

"c. Họ từ bỏ Satan và đọc lời tuyên xưng đức tin;

"d. Họ (và đặc biệt là người mẹ) mang trẻ đến giếng Rửa tội;

"e. Họ cầm nến được thắp sáng;

"f. Họ được chúc lành với lời nguyện đặc biệt riêng dành cho các cha mẹ.

"(4) Một người cha hay người mẹ, do không thể tuyên xưng đức tin (thí dụ, người ấy không là người Công Giáo), có thể giữ im lặng. Một người cha hay người mẹ như vậy, khi xin cho con được Rửa tội, chỉ được yêu cầu sắp xếp ổn thỏa, hoặc ít nhất là cho phép con mình sẽ được giáo dục trong đức tin của phép Rửa của nó.

"(5) Sau khi con Rửa tội, trách nhiệm của cha mẹ, trong sự biết ơn của họ đối với Thiên Chúa và trung thành với bổn phận mà họ đã nhận, là giúp con cái biết Thiên Chúa, vì con trở thành con của Chúa, để chuẩn bị cho nó lãnh phép Thêm sức và tham dự vào phép Thánh Thể. Trong bổn phận này, họ lại được giúp đỡ bởi cha xứ bằng các phương cách phù hợp.

"6. Mỗi đứa trẻ có thể có bõ đỡ đầu (patrinus) và mẹ đỡ đầu (matrina), từ ngữ "người đỡ đầu, vú bõ" (godparents) được sử dụng trong nghi thức để mô tả cả hai người.

"7. Ngoài những gì đã nói về thừa tác viên thông thường của Bí Tích Rửa tội trong phần Dẫn nhập Khai tâm Kitô giáo, các số 11-15, cần lưu ý các điều sau đây:

"(1) Bổn phận của linh mục là chuẩn bị các gia đình cho lễ Rửa tội của con họ, và giúp họ trong việc giáo dục Kitô giáo mà họ đã thực hiện. Nhiệm vụ của Giám mục là phối hợp các nỗ lực mục vụ trong giáo phận với sự trợ giúp của cả các phó tế và giáo dân.

"(2) Bổn phận của linh mục cũng là sắp xếp cho việc Rửa tội luôn được cử hành với phẩm cách xứng đáng và, nếu có thể, thích nghi với hoàn cảnh và mong muốn của các gia đình liên quan. Tất cả những người thực hiện nghi thức Rửa tội phải làm với sự chính xác và tôn kính; họ cũng phải cố gắng hiểu biết và thân thiện với tất cả mọi người. [...]

"Sự thích nghi của thừa tác viên:

"29. Nếu lễ Rửa tội diễn ra trong Thánh Lễ Chúa Nhật, thì Thánh Lễ cho Chúa Nhật này được dùng, hoặc, vào các ngày Chúa Nhật Mùa Giáng Sinh và Chúa Nhật Mùa Thường niên, Thánh Lễ Rửa tội cho trẻ em, buổi cử hành diễn ra như sau:

"(1) Nghi thức tiếp nhận các em (số 33-43) diễn ra ở đầu Thánh lễ, và câu chào cùng nghi thức sám hối ở đầu Thánh Lễ được bỏ qua.

"(2) Trong phụng vụ Lời Chúa:

"a. Các bài đọc được lấy từ Thánh Lễ Chúa Nhật. Nhưng trong mùa Giáng sinh và Mùa Thường niên, các bài đọc có thể được lấy từ các bài trong Sách Bài Đọc cho Thánh lễ (111, 474-489) hoặc trong sách nghi lễ Rửa tội (số 44, 186-215).

"b. Khi một Thánh lễ nghi thức bị cấm, một trong các bài đọc có thể được lấy từ các bản văn được cung cấp cho việc cử hành Rửa tội cho trẻ em, với sự quan tâm đến lợi ích mục vụ của các tín hữu và đặc tính của ngày phụng vụ.

"c. Bài giảng được dựa trên các bài đọc, nhưng phải chú ý đến phép Rửa tội sắp diễn ra.

"d. Không đọc Kinh Tin Kính (Credo), bởi vì lời tuyên xưng đức tin của cả cộng đoàn trước khi Rửa tội thay thế kinh Tin Kính.

"(3) Các lời nguyện tín hữu được lấy từ các lời được sử dụng trong nghi lễ Rửa tội (số 47-48). , Tuy nhiên, cuối cùng trước khi cầu xin các thánh, nên thêm lời cầu cho Giáo Hội phổ quát và các nhu cầu của thế giới.

"(4) Việc cử hành lễ Rửa tội tiếp tục với lời nguyện trừ tà, xức dầu và các nghi lễ khác được mô tả trong nghi thức (số 49-66). Sau khi cử hành lễ Rửa tội, Thánh lễ tiếp tục theo cách thông thường với việc dâng lễ vật.

"(5) Về sự chúc lành cuối Thánh lễ, linh mục có thể sử dụng một trong các công thức trong sách nghi thức Rửa tội (số 70, 247-249).

"30. Nếu lễ Rửa tội được cử hành trong Thánh Lễ vào các ngày trong tuần, nó được sắp xếp về cơ bản giống như trong ngày Chúa Nhật, nhưng các bài đọc cho phụng vụ Lời Chúa có thể được lấy từ các bài trong sách nghi thức Rửa tội (số 44, 186- 194, 204-215)".

Các qui chế tương tự được ban hành bởi nhiều giáo phận và các Hội Đồng Giám mục. Phần trích dẫn thứ ba và cuối cùng của chúng tôi là của Tổng Giáo phận Dublin, Ireland, trong khi nhắc lại một số các quy chế trên, cũng đưa ra một số quan điểm mới và hướng dẫn mục vụ như sau:

"Lễ Rửa tội trong Thánh Lễ Chúa Nhật

"Tại sao Rửa tội trong Thánh Lễ?

"’Cộng đoàn Kitô hữu chào đón các bạn với niềm vui lớn lao’. Đây là lời của linh mục khi bắt đầu nghi thức Rửa tội. Vì vậy thật tuyệt vời nếu cộng đoàn tụ họp để chào đón các Kitô hữu mới. Việc Rửa tội thường được xem như một chức năng gia đình tư nhân, chứ không phải là cử hành một Bí Tích, vốn có ảnh hưởng đến toàn thể cộng đoàn. Nếu có quá nhiều người tụ tập để chia tay một thành viên trong cộng đoàn tại lễ an táng người ấy, tại sao không có nhiều người chào đón một thành viên mới giữa chúng ta trong buổi lễ Rửa tội. Rõ ràng là sẽ không thể, hay không ước muốn, có tất cả các lễ Rửa tội được cử hành trong Thánh Lễ Chúa Nhật, nhưng tốt hơn là hãy làm việc này vào một dịp thích hợp, như Lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa. Đây cũng là dịp để mọi người trải nghiệm điều gì đó khác, so với trong Thánh Lễ Chúa Nhật. Đây là cơ hội cho mỗi người xem lại và suy nghĩ về ơn gọi Rửa tội của mình.

"Cử hành phép Rửa tội trong Thánh Lễ cần một sự điều chỉnh nhẹ đối với cuộc họp chuẩn bị và buổi lễ. Các thay đổi chính là như sau:

"1. Việc xức dầu cho người dự tòng có thể diễn ra trong cuộc họp chuẩn bị. Thật đáng yêu để có các em bé hiện diện cho một sự thay đổi, nó có thể tạo ra một bầu không khí yêu thương tại cuộc họp. Nó tạo cơ hội để giải thích rằng trong thời Giáo Hội ban sơ, người ta đã dành nhiều thời gian để chuẩn bị cho Lễ Rửa tội, và buổi lễ được trải ra trong vài tuần. Đối với người lớn, việc xức dầu dự tòng diễn ra nhiều lần, như là một phần của việc chuẩn bị cho Bí Tích Rửa tội. Vì vậy, thật là rất phù hợp cho chúng ta tiếp tục thỉnh thoảng làm điều này. Lời cầu bên tai và miệng cũng có thể được nói trong cuộc họp này.

"2. Cuộc rước vào và bài ca nhập lễ diễn ra, sau các nghi thức mở đầu của phép Rửa tội.

"3. Nghi thức sám hối có thể được bỏ qua.

"4. Nước dùng để Rửa tội có thể được làm phép trước buổi lễ, hoặc tốt hơn nữa trong Thánh lễ trước đó.

"5. Lời tuyên xưng đức tin được thay thế bởi việc Nhắc lại lời hứa Rửa tội.

"6. Lời chúc lành cho người vừa được Rửa tội và các cha mẹ có thể diễn ra, sau lời nguyện sau Hiệp lễ, trước khi ban phép lành cuối lễ.

"7. Một cách lý tưởng, việc đổ nước lên đầu nên diễn ra tại Giếng rửa tội, trừ khi giếng này không được ai nhìn thấy. Trong trường hợp này, có thề sử dụng một chậu lớn trong cung thánh.

"8. Điều rất quan trọng là cộng đoàn có thể nhìn thấy và nghe những gì đang xảy ra.

"Các việc khác cần làm:

"Qui định ngày giờ trước.

"Liên lạc với các người đọc sách thánh của giáo xứ, và cho họ biết điều gì đang xảy ra. và liệu gia đình có đọc lời nguyện tín hữu hay không.

"Liên hệ với ca đoàn và nói với họ về sự thay đổi trong cuộc rước vào, và xin họ hát các bài hát thích hợp trong các phần khác nhau của buổi lễ, thí dụ: lúc đổ nước Rửa tội, khi thắp nến, khi mặc áo trắng.

"Hãy viết về ngày lễ trong bản tin của giáo xứ, và để cho mọi người biết vào Chúa Nhật trước đó khi nào lễ Rửa tội sẽ diễn ra.

"Hãy chắc chắn rằng các thành viên của nhóm Rửa tội có một vai trò tích cực và rõ ràng trong buổi lễ, và rằng giáo xứ nhận thức được tầm quan trọng của nhóm Rửa tội.

"Có một băng rôn Rửa tội ghi rõ tên các người mới được Rửa tội. Đặt băng rôn này ở một vị trí nổi bật cho tất cả các Thánh lễ ngày Chúa Nhật ấy.

"Để Dầu Thánh (oil of Chrism) vào một cái bình nhỏ, sao cho nó có thể được nhìn thấy trong các Thánh lễ khác nữa.

"Các dấu hiệu dành riêng cho cha mẹ khi họ tham gia đoàn rước

"Mi-crô không dây ...

"Các điểm khác về Buổi họp chuẩn bị cho lễ Rửa tội trong Thánh lễ:

"Nhấn mạnh vai trò quan trọng của Cộng đoàn Kitô hữu.

"Mời các thành viên trong gia đình đọc Lời Nguyện Tín Hữu và mang lễ vật.

"Trong buổi họp, cần cử hành một buổi cầu nguyện nhỏ cho việc xức dầu dự tòng. Hãy đọc đoạn Sách Thánh và cùng nhau đọc kinh Lạy Cha.

"Yêu cầu các gia đình mang các em bé bọc trong một tấm chăn màu vào ngày Rửa tội, và giữ chăn trắng cho đến thời điểm thích hợp. Sự thay đổi màu sắc là rất ấn tượng".

 

Nguyễn Trọng Đa
(vietcathoic 16.05.2017/ Zenit.org 16-5-2017)


“Cách tốt nhất để bảo vệ tâm hồn là xét mình mỗi ngày, để xem mình đã làm điều gì xấu, đã thiếu sót điều gì tốt đối với Chúa, với tha nhân và với chính mình” (ĐTC. Phanxico).

Một số câu hỏi gợi ý trong bản hướng dẫn xét mình như sau:
Tôi có trở về với Chúa khi tôi gặp khốn khó không?
Tôi có tham dự Thánh lễ ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc không?
Tôi có cầu nguyện sáng tối không?
Tôi có hổ thẹn khi tỏ mình là người Kitô hữu không?
Tôi có đi ngược lại chương trình của Thiên Chúa không?
Tôi có ganh tị, nóng nảy, thiên kiến không?


Tôi có trung thực và công bằng với mọi người hay tôi cổ võ cho “nền văn hóa vứt bỏ” ?
Trong các mối tương quan hôn nhân và gia đình, tôi có sống đạo đức như Phúc Âm đã dạy không?
Tôi có kính trọng cha mẹ không?
Tôi có chối bỏ cuộc sống mới được tượng thai không? +Tôi có tiêu huỷ hồng ân sự sống không? Tôi có cộng tác vào việc ấy không?
Tôi có tôn trọng môi trường không?
Tôi có vừa theo Chúa vừa theo thế gian không?
Tôi có quá độ trong việc ăn uống, hút thuốc và giải trí không?
Tôi có lo lắng quá mức về đời sống vật chất và của cải không?
Tôi sử dụng thời giờ như thế nào? Tôi có lười biếng không?
Tôi có đòi người khác phải phục vụ mình không?


Tôi có mong muốn báo thù, nuôi dưỡng thù hận không?
Tôi có hiền lành, khiêm tốn và xây dựng hòa bình không?

Đức Thánh Cha nói, người Công giáo cần phải xưng tội, bởi vì ai cũng cần được tha thứ tội lỗi, tha thứ những cách“chúng ta suy nghĩ và hành động trái với Phúc Âm”.

“Ai bảo mình vô tội thì người ấy là kẻ nói dối hoặc bị mù”.

Xưng tội chính là lúc hoán cải chân thành, là lúc bày tỏ niềm tin tưởng vào Thiên Chúa là Đấng sẵn sàng tha thứ cho con cái mình và giúp chúng quay về con đường theo bước Chúa Giêsu.

(Minh Đức chuyển ngữ).


ashcross.gif

1/ Mùa Chay là gì? 

Mùa Chay kéo dài bao nhiêu ngày, bắt đầu và kết thúc vào ngày nào?Mùa Chay là mùa sám hối đặc biệt để chuẩn bị mừng lễ Vượt Qua của Đức Kitô. Mùa Chay kéo dài 40 ngày, bắt đầu từ thứ Tư Lễ Tro và kết thúc trước thánh lễ Tiệc Ly chiều ngày thứ Năm Tuần Thánh.

2/ Kinh Thánh cho ta biết con số 40 ám chỉ những biến cố lớn nào?

Con số 40 (ám chỉ) gợi nhớ 40 năm dân Do Thái Vượt Qua trong sa mạc tiến về Đất Hứa (Ds 14,33; 32,13), lụt Hồng Thủy kéo dài 40 đêm ngày (St 7) và cuộc chay tịnh 40 đêm ngày của Chúa Kitô trong rừng vắng trước khi rao giảng ơn cứu độ (Mt 4,2; Lc 4,1-2). Các Giáo Phụ cũng coi thời gian giữ chay tương tự thời gian bốn mươi ngày ông Mô-sê ở trên núi Xi-nai (Xh 34,28), hoặc bốn mươi ngày ông Ê-li-a chạy trốn ở núi Kho-rép (1V 19,8)...

3/ Mùa Chay có mấy đặc tính?

Mùa Chay là mùa sám hối đặc biệt để chuẩn bị mừng lễ Vượt Qua của Đức Kitô, và nhất là nhớ lại hoặc dọn mình lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy.

Mùa Chay còn là mùa chuẩn bị các tín hữu cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua bằng sự nhiệt thành nghe Lời Chúa và chuyên chăm cầu nguyện mỗi ngày.

4/ Mùa Chay mang ý nghĩa gì?

Mùa Chay là thời kỳ sám hối, cầu nguyện: Hội Thánh kêu gọi mọi người quay về với Chúa, thanh tẩy tâm hồn, từ bỏ các tật xấu, hy sinh hãm mình và làm việc bác ái.

Mùa Chay cũng là thời gian huấn luyện đức tin của các Kitô hữu cho thêm vững mạnh, và sâu xa hơn khi nhớ lại Bí tích Rửa Tội đã lãnh nhận.

Mùa Chay còn là mùa chuẩn bị cho anh chị em dự tòng đón nhận sự sống thiêng liêng nhờ việc sống tinh thần của Bí tích Rửa Tội.

5/ Chủ đề Sứ điệp Mùa Chay năm 2011 của Đức Thánh Cha là gì?

Sứ điệp năm nay có chủ đề "Cùng với Chúa Kitô anh chị em đã được chôn táng trong phép Rửa Tội, và anh chị em cũng được sống lại với Người" (Xc Cl 2,12).

6/ Trong sứ điệp Mùa Chay năm 2011, Đức Thánh Cha chỉ ra đâu là điểm giúp hướng dẫn hành trình Mùa Chay?

"Để nghiêm túc bắt đầu hành trình tiến về Lễ Phục Sinh và chuẩn bị cử hành sự sống lại của Chúa - là lễ vui mừng và trọng đại nhất trong toàn năm phụng vụ - thử hỏi có gì thích hợp hơn là để cho Lời Chúa dẫn dắt?"7/ Bốn phương thế Hội Thánh quen dùng trong Mùa Chay là gì?

Bốn phương thế Hội Thánh quen dùng trong Mùa Chay là: sám hối, ăn chay hãm mình, cầu nguyện và làm các việc bác ái.

8/ Sám hối là gì? 

Sám hối là can đảm và khiêm tốn nhìn nhận những lỗi lầm mình đã phạm.

9/ Việc chay tịnh giúp con người ra sao? 

Qua việc chay tịnh, con người nhìn nhận mình lệ thuộc Thiên Chúa, vì chính lúc không sử dụng lương thực Chúa ban, con người mới cảm nghiệm được tính cách bấp bênh của sức lực mình. Hơn nữa, ăn chay là muốn bày tỏ cùng Thiên Chúa rằng: Nếu không có Người, chúng ta không thể làm gì được; và qua việc thực lòng nhìn nhận tính cách hư vô của mình, con người khẩn cầu Chúa tha thứ.

10/ Theo luật Hội Thánh, đến tuổi nào thì buộc phải giữ chay và kiêng thịt? 

Theo luật Hội Thánh, mọi người từ tuổi thành niên (tức là 18 tuổi trọn; GL 97) cho đến khi bắt đầu 60 tuổi thì buộc phải giữ chay (GL 1252 ). Còn luật kiêng thịt buộc những người từ 14 tuổi trọn trở lên.

11/ Giáo Hội buộc ta phải giữ chay và kiêng thịt vào những ngày nào? 

Giáo Hội buộc ta phải giữ chay và kiêng thịt vào hai ngày thứ Tư Lễ Tro và ngày thứ Sáu Tuần Thánh (x. GL 1251). Việc chay tịnh của Hội Thánh vào hai ngày này nói lên ý muốn đền tội và từ bỏ tội lỗi và đó cũng là một sự chuẩn bị để mừng lễ Phục Sinh.

12/ Phụng vụ ngày thứ Tư Lễ Tro gợi lên cho tín hữu những gì? 

Phụng vụ ngày thứ Tư Lễ Tro gợi lên cho tín hữu ý thức về thân phận thụ tạo tội lỗi của mình. Khi nhận tro rắc lên đầu, tín hữu được nhắc nhớ: "hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro".

13/ Tại sao Chúa nhật thứ VI Mùa Chay được gọi là Chúa nhật Lễ Lá? 

Chúa nhật bắt đầu Tuần Thánh gọi là Chúa nhật Lễ Lá, vì có cuộc kiệu lá để kỷ niệm việc Chúa Giêsu long trọng tiến vào thành thánh Giê-ru-sa-lem để hoàn tất Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người. Tục lệ này khởi đầu tại Giê-ru-sa-lem vào cuối thế kỷ thứ IV.

14/ Nghi thức làm phép lá và rước lá nhắc nhở chúng ta điều gì? 

Nghi thức làm phép lá và rước lá nêu cao vương quyền của Đức Kitô, đồng thời để giúp chúng ta sống lại cảnh tượng Chúa Kitô khải hoàn tiến vào Giê-ru-sa-lem. Người muốn tỏ uy quyền và vinh quang của Người để chúng ta bền vững, tin tưởng và trung thành với Người.

15/ Tuần Thánh là gì?

Tuần Thánh là tuần lễ chủ yếu của năm Phụng vụ, bắt đầu từ Chúa nhật Lễ Lá đến Chúa nhật Phục Sinh.

16/ Trong tuần Thánh, Giáo Hội cử hành những cuộc tưởng niệm nào?

Trong Tuần Thánh, Giáo Hội cử hành cách đặc biệt hơn các biến cố trong những ngày cuối cùng của Chúa Giêsu, tức là cuộc khổ nạn, cái chết và sự Phục Sinh của Người. Trong tuần lễ này, Tam Nhật Vượt Qua là những ngày quan trọng nhất.

17/ Hằng năm, người Do Thái mừng lễ Vượt Qua để làm gì?

Hằng năm người Do Thái mừng lễ Vượt Qua để tưởng nhớ lại biến cố Vượt Qua Biển Đỏ mà ngợi khen, cảm tạ Thiên Chúa đã yêu thương giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ Ai Cập, và nhắc nhở họ phải sống xứng đáng là dân riêng của Chúa.

18/ Hội Thánh cử hành Tam Nhật Vượt Qua với mục đích nào?

Hội Thánh cử hành Tam Nhật Vượt Qua để cho ta thấy trước và sống trước những thực tại của ngày cánh chung, ngày mà Chúa Kitô sẽ tập hợp tất cả chúng ta lại trong Nước của Cha Người. Mầu nhiệm Thương Khó và Phục Sinh của Chúa Giêsu đã khơi mào và bảo đảm cho ta được hưởng ngày hồng phúc ấy. Hơn nữa, Hội Thánh dùng Tam Nhật Vượt Qua để đón nhận những con cái mới được sinh ra trong ân sủng, để giao hòa những hối nhân và canh tân đời sống những người đã được thanh tẩy.

19/ Tam Nhật Vượt Qua có ý nghĩa gì đối với Kitô hữu?

Tham dự Tam Nhật Vượt Qua, tín hữu được sống với Đức Kitô trong bữa Tiệc Ly, theo Người lên Núi Sọ, bước vào chốn an nghỉ của Người và chiêm ngắm Người Phục Sinh vinh hiển.

20/ Tại sao Tam Nhật Vượt Qua lại là trung tâm điểm của Phụng vụ Kitô giáo?

Tam Nhật Vượt Qua là trung tâm điểm của Phụng vụ Kitô giáo, bởi vì tất cả nền Phụng vụ của Hội Thánh đều phát xuất từ mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô: khổ nạn, chịu chết và phục sinh. Ngày Chúa Phục Sinh là ngày lễ Mẹ của mọi ngày Chúa nhật trong năm; Thánh Lễ nào cũng đều tưởng niệm và tái diễn công cuộc Vượt Qua của Đức Kitô.

21/ Trong ngày thứ Năm Tuần Thánh, Hội Thánh cử hành những nghi thức long trọng nào?

· Thánh Lễ Truyền Dầu được cử hành vào ban sáng do Đức Giám mục Giáo phận chủ tế cùng với Linh mục đoàn để làm phép dầu Bệnh Nhân, dầu Dự Tòng và để thánh hiến Dầu Thánh.
· Thánh lễ tưởng niệm bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu được cử hành ban chiều để nhắc nhớ việc Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể. Thánh lễ này khai mạc Tam Nhật Vượt Qua.

22/ Phụng vụ chiều thứ Năm Tuần Thánh, Giáo Hội tưởng niệm những biến cố gì?

Trước hết là tưởng niệm bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu, việc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể và chức Linh mục, cũng như nghi thức rửa chân, biểu tượng tình yêu phục vụ của Đức Kitô.

23/ Khi cử hành nghi thức rửa chân, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta điều gì?

Chính vì yêu thương mà Chúa Giêsu đã hạ mình xuống rửa chân cho các môn đệ, như đầy tớ rửa chân cho chủ. Qua nghi thức này, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta phải noi gương Đức Kitô trong tinh thần phục vụ: "Phục vụ vì yêu thương".

24/ Kinh Thánh cho ta biết tâm trạng của Chúa Giêsu trong vườn Ghết-xê-ma-ni thế nào?

Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, Chúa Giêsu cảm thấy sợ sệt, buồn rầu và xao xuyến. Người đã xin Chúa Cha cho khỏi qua giờ đau khổ, khỏi phải uống chén đắng này. Tuy nhiên, dầu sợ hãi, Người cũng sẵn sàng chết, nếu đó là Thánh ý Chúa Cha: "nhưng xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha".

25/ Chén đắng mà Chúa Giêsu xin Chúa Cha cho Ngài khỏi uống ám chỉ điều gì?

Chén đắng ở đây ám chỉ những thử thách và những đau khổ mà Đức Giêsu sắp phải chịu. Đó chính là cuộc thương khó của Ngài.

26/ Trọng tâm của việc cử hành chiều ngày thứ Sáu Tuần Thánh là gì? Tại sao?

Trọng tâm của việc cử hành chiều thứ Sáu Tuần Thánh là nghi thức suy tôn và kính thờ Thánh Giá, vì nhờ Thánh Giá mà ơn cứu độ được ban cho chúng ta.

27/ Trên Thập Giá, Đức Giêsu đã nói những lời nào?

· Lời thứ nhất: Đức Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha xin Người tha cho những kẻ làm khổ mình: "Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm" (Lc 23, 34);
· Lời thứ hai: Đức Giêsu chấp nhận lời xin của tên trộm bị đóng đanh cùng: "Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng" (Lc, 23, 43);
· Lời thứ ba: Đức Giêsu trao gửi Thánh Gioan cho Đức Mẹ: "Thưa Bà, đây là Con Bà" (Ga 19,26);
· Lời thứ bốn: Đức Giêsu trao gửi Đức Mẹ cho Thánh Gioan: "Đây là Mẹ của anh" (Ga 19,27);
· Lời thứ năm: Đức Giêsu than thở với Chúa Cha: "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con!" (Mt 27, 46);
· Lời thứ sau: Đức Giêsu phó thác linh hồn cho Chúa Cha: "Lạy Cha, Con xin phó thác linh hồn Con trong tay Cha" (Lc 23, 46);
· Lời thứ bảy: Đức Giêsu kêu khát và sau khi uống chút giấm chua, Đức Giêsu nói: "Thế là mọi sự đã hoàn tất". Rồi Người tắt thở. (Ga 19, 30).

28/ Khi chết trên Thập Giá, Đức Kitô muốn nói với chúng ta điều gì?

Đức Kitô muốn nói rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng: "Không có tình yêu nào lớn lao cho bằng tình yêu của người dám hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu" (Ga 15, 13).

29/ Tại sao gọi tình yêu của Thiên Chúa là tình yêu cứu chuộc?

Chúng ta gọi tình yêu của Thiên Chúa là tình yêu cứu chuộc vì qua hy lễ của Đức Kitô, tình yêu Thiên Chúa giải thoát loài người khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết. (Rm 5, 8).

30/ Khi chiêm ngắm Chúa Giêsu chết trên Thập Giá, chúng ta phải có những thái độ nào?

· Suy tôn: vì Chúa đã chiến thắng sự chết;
· Cảm phục: vì Chúa đã hy sinh chịu chết;
· Cảm mến: vì Chúa đã dùng cái chết để tỏ lòng yêu thương ta;
· Tri ân: vì Chúa đã chịu chết để chuộc tội cho ta;
· Ngưỡng mộ: vì Chúa muốn chúng ta noi theo Người: "Ai muốn theo Ta, thì hãy bỏ mình và vác thập giá mình mà theo";

Vì thế, chúng ta giục lòng ăn năn tội và quyết tâm sống mỗi ngày đẹp lòng Chúa hơn.

31/ Ngày thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội muốn chúng ta làm gì?

Ngày thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội mời gọi chúng ta cùng với Mẹ Maria cầu nguyện bên Mồ Chúa, cùng Người suy ngắm các đau khổ, cái chết và việc mai táng của Chúa Giêsu trong niềm hy vọng và tin tưởng.

32/ Trên hình Thánh Giá ở cây nến Phục Sinh, Linh mục ghim năm hạt hợp hương mang ý nghĩa gì?

Trên hình Thánh Giá ở cây nến Phục Sinh, năm hạt hợp hương chính là biểu tuợng năm dấu đanh của Chúa Giêsu (dấu đanh trên cổ tay trái, dấu đanh trên cổ tay hữu, dấu đanh trên cổ chân trái, dấu đanh trên cổ chân phải, và dấu đanh bên cạnh sườn của Chúa Giêsu).

33/ Dấu Thánh Giá mang ý nghĩa gì?

Thánh Giá là dấu chỉ của sự cứu độ. Khi làm dấu Thánh giá, chúng ta nhận biết mình thuộc về Chúa Kitô và bày tỏ niềm tin vào Chúa Kitô, Đấng đã chết trên Thánh giá để cứu chuộc chúng ta.

nguồn: Liên Đoàn CGVNHK




– Bé gái hỏi: Con chào Đức Thánh Cha Phanxicô! Thưa Cha, khi chúng ta nhận Phép Rửa, chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa, còn những người chưa nhận Phép Rửa, họ có phải là con của Chúa không ạ? (Bé còn đang muốn nói thêm…)

– Đức Thánh Cha nói: Con tạm ngưng lại đó. Con tên là gì?

– Bé gái thưa: Dạ, con tên là Carlotta.

– Đức Thánh Cha nói: Này bé Carlotta. Hãy nói cho Cha nghe, Cha hỏi ngược lại con đó: Chính con nghĩ sao về câu hỏi đó? Những người chưa nhận Phép Rửa, họ có phải là con cái Chúa không? Thật lòng con nói gì?

– Bé gái thưa: Dạ, có.

– Đức Thánh Cha tiếp: Đúng vậy con ạ. Bây giờ, Cha sẽ giải thích. Con đã trả lời rất tốt. Tất cả chúng ta là con cái Chúa. Tất cả, tất cả chúng ta. Ngay cả những người chưa chịu Phép Rửa? Đúng thế. Ngay cả những người thuộc các tôn giáo khác, ngay cả những người xa cách, ngay cả những người có các thần tượng của họ? Đúng thế, tất cả họ đều là con cái Chúa. Ngay cả những người thuộc xã hội đen, họ cũng là con cái Chúa? … (các trẻ em ngập ngừng)… Các con không chắc sao… Đúng thế, ngay cả những người thuộc xã hội đen, ngay cả họ cũng là con cái Chúa. Cho dù họ thích trở thành con cái của thần dữ, nhưng họ vẫn là con cái Chúa. Tất cả, tất cả họ là con cái Chúa. Vậy điều khác biệt là gì? Thiên Chúa đã tạo dựng tất cả chúng ta, Ngài yêu thương tất cả chúng ta, và đặt vào lòng chúng ta tiếng nói lương tâm để biết làm lành lánh dữ. Mọi người đều có điều ấy. Đó là biết đâu là thiện là lành, ngay cả những người chưa nhận biết Chúa Giêsu, những người chưa biết Đạo Chúa, mọi người đều có linh hồn và đó là hạt giống Thiên Chúa gieo vào lòng mỗi người. Nhưng khi con được nhận Phép Rửa, Chúa Thánh Thần đi vào tâm hồn con và biến đổi con trở thành con cái Thiên Chúa hơn nữa. Vì một mặt, con là con cái Chúa giống như mọi người, nhưng con còn nhận được sức mạnh của Chúa Thánh Thần ở trong cõi lòng mình. Con có hiểu không, Carlotta? Giờ đây, Cha muốn hỏi tất cả các con: Mọi người có phải là con cái Chúa không?

– Tất cả thưa: Dạ, có!

– Đức Thánh Cha hỏi tiếp: Những người tốt có phải là con cái Chúa không?

– Tất cả trẻ em đáp: Dạ, có!

– Đức Thánh Cha hỏi: Những người xấu có phải là con cái Chúa không?

– Trẻ em đồng thanh đáp: Dạ, có!

– Đức Thánh Cha hỏi: Những người chưa nhận biết Chúa Giêsu, những người thuộc các tôn giáo khác, những người có các thần tượng của họ, họ có phải là con cái Chúa không?

– Trẻ em đồng thanh đáp: Dạ, có!

– Đức Thánh Cha nói: Những người thuộc xã hội đen, họ có là con cái Chúa không?

– Trẻ em đáp: Dạ, có!

– Đức Thánh Cha nói: Chúng ta cần phải cầu nguyện để họ trở lại để họ nhận biết Thiên Chúa chân thật! Bây giờ các con không nói thành lời, mà trả lời thầm trong lòng về câu hỏi sau: Ai trong các con cầu nguyện cho những người trong xã hội đen, để họ được ơn hoán cải? Mỗi người các con hãy đáp lại trong lòng mình. Rồi, giờ thì các con nói lớn tiếng cho Cha nghe: Khi chúng ta nhận Phép Rửa, ai đã đến trong tâm hồn ta? … Nói to lên xem nào!

– Trẻ em đồng thanh đáp: Dạ, Chúa Thánh Thần!

Tứ Quyết SJ

Trích cuộc nói chuyện của Đức Thánh Cha Phanxicô với các em thiếu nhi, trong cuộc viếng thăm mục vụ Giáo xứ Thánh Phaolô Thánh Giá tại Roma (Visita Pastorale alla Parrocchia di San Paolo della Croce a Corviale: Roma-Italia, 15.04.2018), (Rivista Diocesana Di Roma, Anno XXV Aprile-Giugno 2018 N.2).

Hỏi: Xin cha giải thích về sự có mặt của ma quỉ cám dỗ con người trên trần thế này.

Ma quỷ là ai và có thể làm hại con người ra sao
Trả lời: Nói về ma quỉ (devils, ghosts) chúng ta cần phân biệt  phân biệt hai loại sau đây:

1- Trước hết là có những hiện tượng kinh dị mà nhiều người đã gặp thấy  và  tin đó là có hồn ma  người chết hiện về  để nhát đảm  người còn sống. Cụ thể ở Saigon trước năm 1975, người ta đồn rằng  có  một căn nhà ở đường Trương minh Giảng, thường có  ma hiện về  phá phách  ban đêm.  Nhà này là của một cặp vợ chồng kia bất hòa sao đó, khiến người chồng bắn vợ chết, sau đó cũng tự sát. Từ đó, ai dọn đến ở đều gặp hồn ma hiện về phá phách khiến không ai dám ở trong căn nhà đó nữa. Đây là điển hình cho những chuyện người ta đồn nhau ở khắp nơi về điều được gọi là  có ma quỉ  hiện ra  quấy phá người sống.

Ở Mỹ cũng có hiện tượng tương tự. vì  có những nhà  được gọi là “Haunted houses” (có ma ám ảnh) không ai dám ở vì tin là có ma hiện ra nhát người sống. Bản thân tôi, khi còn làm phó xứ ở một giáo xứ kia, có một giáo dân người Mễ-Tây Cơ  một hôm đã đến xin tôi làm phép nhà cho bà ta vì bà nói thỉnh thoảng về  đêm có tiếng la hét trong phòng tắm kế bên phòng ngủ,  mặc dù  trong nhà chỉ có hai vợ chồng già và không ai sử dụng phòng tắm về đêm! Tôi đã đến làm phép nhà cho bà và sau đó  không thấy bà nói gì về việc sợ hãi kia nữa.

Như vậy, chắc chắn có những “hiện tượng bất thường” xảy ra mà người ta gán cho là có ma quỷ  xuất hiện dưới nhiều hình thức  để nhát đảm hay quấy phá người sống. Giáo Hội không đưa ra một giải thích rõ nào về những hiện tượng này, mặc dù  tin có chuyện ma quỷ ám hại con người  nên cho đến nay, Giáo Hội vẫn sử dụng phép  “trừ   quỷ, trừ tà”  (Exorcism) được Giáo Quyền địa phương trao cho một linh mục nào thi hành khi cần đến.

Xưa kia, khi còn đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần “trừ quỉ” nhập vào làm khổ nhiều người. Điển hình là trường hợp có người kia đã bị một lũ quỷ nhập và hành hạ rất khốn đốn. Chúa đã trừ chúng ra khỏi nạn nhân và  cho chúng nhập vào đàn heo và lao xuống vực thẳm chết.hết. (Lc 8: 26-31). Lại nữa, “các thần ô uế, hễ thấy Đức Giêsu thì sấp mình dưới chân Người và kêu lên: Ông là Con Thiên Chúa. Nhưng Người đã cấm ngặt  chúng không được không được tiết lộ Người là ai.” (Mc 3:  11-12).

Quỷ la lên khi bị Chúa trừ ra khỏi các nạn nhân của chúng và không cho phép chúng nói Người là ai (Lc  4: 40-41).Tin Mừng Thánh Matthêu cũng thuật lại trường hợp một người bị quỷ ám khiến cho  mù  lòa  và câm. Chúa đã trừ quỷ ra khỏi anh ta khiến anh lại  được trông thấy và nói được. (Mt 12: 22-23). Đặc biệt, Chúa đã trừ 7 quỷ ám hại một phụ nữ tên là  Maria Ma-đa-la. (Lc 8 : 2) . Bà này sau đó đã đi theo Chúa cho đến khi Người chết trên thánh giá. Bà cũng là phụ nữ đầu tiên đã đến viếng Mộ Chúa sáng ngày thứ nhất trong tuần và đã được gặp Chúa hiện ra và bảo đi loan báo tin mừng Chúa Phục Sinh cho các môn đệ Người. (Mt 28:  1-10; Ga 20: 11-18)

Thánh Phaolô cũng nhân danh Chúa Kitô để trừ  quỷ nhập vào một phụ nữ chuyên nghề bói toán, đồng bóng:

Nhân danh Đức Giêsu-Kitô, ta truyền cho ngươi phải xuất khỏi người này. Ngay lúc ấy quỷ thần liền xuất.ra” (Cv  16: 18)

Nhưng  phải nói ngay là, những trường hợp quỷ nhập và ám hại người sống nói trên, kể cả  những chuyện  ma quỷ  hiện hình  để quấy phá  người sống, tất cả  chỉ  có tác dụng làm cho người  ta sợ hãi, khốn khổ về thể xác mà thôi, chứ không có gì phải lo sợ về phần hồn.

  Điều đáng lo sợ về phần hồn, hay phần rỗi của mọi người chúng ta là có  loại ma quỷ  không hiện hình để phá phách, hay ám hại ai  về thể xác,  nhưng  vô hình cám dỗ con người với nhiều chiến lược tinh xảo  khiến  cho rất nhiều người  đã và đang ngã theo chúng để làm những sự dữ, sự tội như chúng ta thấy rõ bộ mặt của chúng trong cách sống của biết bao người ở khắp nơi trên trần thế xưa và nay.

2-  Đó là  Quỷ Satan và bè lũ:

Loại  “ma quỷ”  này không  hiện ra để  làm  cho ai phải khiếp sợ, nhưng lai vô hình ám hại con người cách đáng sợ hơn,với những mưu chước  cám dỗ  rất tinh vi và thâm độc để mong lôi kéo con người ra khỏi  tình yêu của Thiên Chúa, làm nô lệ cho chúng để mất hy vọng được cứu rỗi.

Đây là thứ quỷ mà   Kinh Thánh và  Giáo lý của Giáo Hội  nói về “một Thiên Thần đã sa ngã đểtrở thành quỷ Satan” và kéo theo các Thiên Thần khác  nổi lên chống lại Thiên Chúa. Chúng và  không hề ăn năn xin tha thứ để vĩnh viễn là những kẻ phản loạn, muốn lôi kéo con người đi theo chúng để chống lại Thiên Chúa là tình yêu, công minh và thánh thiện. (x. SGLGHCG số 391-394)

Thánh Gioan, trong Sách Khải Huyền, đã gọi loại ma quỷ hay Sa-tan này  là Con Mãng  xà, tức Con Rắn xưa:

“Bấy giờ tôi thấy một Thiên Thần từ trời xuống, tay cầm chìa khoá vực thẳm và một dây xích lớn. Người bắt lấy Con Mảng Xà, tức là Con Rấn xưa, cũng là ma quỷ hay Sa-tan, và xích nó lại một ngàn năm.” (Kh 20: 1-20)

Nói rõ hơn, loại ma quỷ này được xem như “những Thiên Thần đã sa ngã” vì đã kiêu căng chống lại Thiên Chúa và  đã  bị đạo quân thiên quốc của Tổng lãnh Thiên thần Mi-ca-e  đánh bại.

Đây mới là loại “ ma quỉ” mà chúng ta phải  khiếp sợ và đề phòng để không sa vào cạm bẫy của chúng  như Thánh Phêrô đã ân cần nhắc nhở  chúng ta sau  đây:

 “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh  em, như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé.” (1 Pr  5: 8)

Như sư tử đói rảo quanh tìm mồi ăn sống nuốt tươi  thế nào, thì ma quỷ cũng ngày đêm rình rập để cướp lấy linh hồn chúng ta bằng  mọi mưu chước cảm dỗ như vậy.

Như thế, loại ma quỷ này  mới  chính là  kẻ thù nguy hiểm nhất mà chúng ta phải tỉnh thức đề phòng, và  nương nhờ ơn Chúa  để chống lại  hầu  được sống trong tình thương của Chúa và có hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.

Quỷ Satan và bè lũ “rảo quanh cõi đất và lang thang khắp đó đây”  như chính Satan đã trả lời Thiên Chúa khi nó muốn thách đố Thiên Chúa về lòng tin và yêu mến của ông Gióp trong cơn thử thách nặng nề. Chúa cho phép nó được  đụng chạm đến của cải, tài sản của ông Gióp nhưng không được đụng đến mạng sống của ông. (Gióp 1: 9: 12)

Chính vì mục đích của chúng là lôi kéo con người ra khỏi tình thân với Chúa nên Quỷ Satan và bè lũ đã và đang xô đẩy  quá  nhiều người xuống vực thẳm hư mất đời đời, vì  đã dại dột  nghe theo chúng để phạm những tội ghê gớm như giết người hàng loạt, phá thai không  gớm  tay, hận thù, trộm cướp, ham mê khoái lạc (Hedonism) và dâm ô thác loan, chối bỏ Thiên Chúa để tôn thờ tiền bạc và của cải  vật chất, buôn bán phụ ữ và trẻ nữ để bán cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn, và tội  lỗi, trong khi  dửng dưng trước sự đau khổ, nghèo đói của biết bao người không may mắn ở khắp nơi trên thế giới. Đặc biết ở các quốc gia độc đảng, độc tài, tham quyền cố vị  để vơ vết của cải, làm giầu cho bản thân và phe nhóm, trong khi nhắm mắt bịt tai trước những bất công xã hội và suy thoái nặng nề về  luân thường đạo lý. Tắt một lời: thế giới đang sống với văn hóa của sự chết vì Satan đang thống trị  quá nhiều  người ở khắp nơi trên thế gian tục hóa, vô luân vô đạo  ngày nay.

Từ thuở đầu tiên, chính quỷ Satan, trong hình thù  con Rắn,  đã cám dỗ bà Eva ăn trái cấm trong Vườn  Địa Đàng, khiến con người đã mất tình thân với Thiên Chúa và mang sự chết vào trần gian như ta đọc thấy trong Sách Sáng Thế., và Thư Rôma của Thánh Phaolô. ( x. St 3: 1-6; Rm  5: 12 )

Sau này, cũng chinh quỷ Satan  đã dám đến cám dỗ Chúa Giêsu ba lần trong rừng vắng, nơi Chúa ăn chay cầu nguyện. Chúa đã đánh bại và quát mắng nó: “Satan kia xéo đi.” (Mt 4 : 10)

Chúa  đã đánh bại Satan với Thần khí của Thiên Chúa như lời Người  đã nói với  dân chúng chứng kiến việc Người trừ quỷ ra khỏi một nạn nhân bị nó làm cho câm và mù mắt:

 ...còn nếu Tôi dựa vào Thần Khí  Thiên Chúa mà trừ quỷ thì quả là triều đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông. (Mt 13: 28)

Sau này, cũng  Satan đã “nhập vào Giuđa” sau khi  môn đệ này ăn miếng bánh Chúa trao cho trong đêm Tiệc Ly cuối cùng.  Và y đã ra đi trong đêm tối để thi hành việc trao nộp Chúa cho bọn Thượng tế và kỳ mục Do Thái. (Ga 13 : 27)

Trước đó, Chúa cũng đã nói với Phêrô  về  hiểm họa cám dỗ của Satan như sau:

 “Si-mon, Si-mon ơi, kìa Satan đã xin được sàng anh  em như người ta sàng gạo.” (Lc  22: 31)

Sàng  như sàng gạo, nghĩa là cám dỗ mãnh liệt cho ta sa ngã. Vì thế, Chúa đã nhắc thêm cho Phêrô và các môn đệ Người  phải luôn  tỉnh thức mà cầu nguyện như sau:

 “Anh  em hãy canh thức mà cầu nguyện  kẻo sa chước cám  dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối.” (Lc 14: 38 )

Chúa  phải nhắc các môn đệ Người và tất vả chúng ta như vậy vì  Người biết rằng Satan  và  bè lũ luôn rình rập từng giây từng phút  để cám dỗ con người phạm tội nghịch cùng Thiên Chúa như chúng luôn thù nghich Thiên Chúa và không muốn cho ai thuộc về Thiên Chúa nữa.

Tóm lại, ma quỷ là một thực thể không thể chối cãi được. Chúng có mặt cách vô hình trên trần gian, sau khi đã phản nghịch cùng Thiên Chúa và bị trục xuất ra khỏi Thiên Đàng  như  Kinh Thánh và giáo lý của Giáo Hội  dạy. Chúng quả thực là kẻ thù đáng sợ cho mọi người tín hữu chúng ta, vì âm mưu thâm độc của chúng muốn lôi kéo chúng ta ra khỏi tình thương và  tình thân với Chúa, khiến ta mất hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.

Do đó, muốn được  cứu rỗi, muốn thuộc vể Chúa  để hưởng Thánh Nhan  Người trên cõi vĩnh hằng, chúng ta không thể coi thường sự có mặt của ma quỉ hằng tỉnh thức và rình rập bên ta ngày đêm để cám dỗ ta làm những gì trái nghích với tình thương, công bình và thánh thiện của Thiên Chúa là  Cha cực tốt cực lành; Đấng giầu yêu thương nhưng gớm ghét mọi tội lỗi, vì tội lỗi là do ma quỷ  gây ra  như  Thánh Gioan Tông Đồ đã dạy dưới đây:

"Ai phạm tội thì là người của  ma quỷ 
Vì ma quỷ phạm tội từ lúc khởi  đầu
Sở dĩ Con Thiên Chúa xuất hiện
Là để phá hủy công việc của ma quỷ.”

 ( 1Ga 3:8)

Vậy chúng ta phải luôn tỉnh thức, luôn cầu nguyện  và đề phòng để không sa chước cám dỗ của ma quỷ, là kẻ triệt để  khai thác sự yếu đuối của bản tính con người và gương xấu của thế gian, của  môi trường xã hội để mong  xô chúng ta xuống vực thẳm  hư mất đời đời. cùng với chúng.. Cho nên, muốn được cứu rỗi để vào Nước Thiên Chúa mai sau, tất cả chúng ta , những người may mắn có  được đức tin, phải cương quyết chống lại Satan và bè lũ để  không phạm tội và mất hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.

Chúa Kitô đến trần giân để hy sinh mạng sống mình làm “giá chuộc cho muôn người” ( Mt 20:28) nhưng Chúa không tiêu diệt hết mọi tội lỗi và kẻ gây ra tội lỗi là ma quỉ. Do đó, muốn được cứu rổi để vào hưởng hạnh phức Nước Trời với Chúa sau khi hoàn tất hành trình con người trên trần thế này, chúng ta chớ quên sự có mặt của tội lỗi và ma quỉ để phải  liên lỉ chiến đấu chống lại chúng với ơn Chúa phù giúp cho đến phút sau cùng của mỗi người chúng ta trên trần gian này.Phương pháp hữu hiện để chiến thắng tội lỗi và ma quỉ là phải siêng năng cầu nguyện vì “ không có Thầy anh  em không làm gì được.”( Ga 15:5)  Nghĩa là không có ơn Chúa phù giúp thì chúng ta không dễ vượt qua mọi cám dỗ của ma quỉ, của xác thịt yếu đuối và lôi cuốn mạnh  mẽ của thế gian với quá nhiều gương xấu và dịp tội.

Tóm lại, tội lỗi và ma quỉ có mặt trong trần gian và ở quanh mỗi người chúng ta để mong lôi kéo chúng ta ra  khỏi tình thương và thân tình với Chúa khiến mất hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô.Do đó, muốn chiến thắng ma quỉ và tội lỗi, mọi người tín hữu chúng ta phải luôn cầu nguyện, nhất là năng rước Mình Thánh Chúa để được tăng sức mạnh thiêng liêng trong cuộc chiến chống tội lỗi và ma quỉ là kẻ gây ra mọi tội lỗi qua các cơn cảm dỗ liên lỉ và tinh quái của chúng.Amen.

Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Tại sao người Công Giáo chỉ ăn chay có 2 ngày và kiêng thịt thì lại cho ăn những món ăn khác như tôm, cua, cá… đôi khi còn ngon và đắt tiền hơn thịt nữa, trong khi các đạo khác ăn chay khắc khổ hơn. Thực hành việc ăn chay phải như thế nào mới đúng. Con xin cám ơn cha.

Tại sao người Công Giáo chỉ ăn chay có 2 ngày và kiêng thịt thì lại cho ăn những món ăn khác như tôm, cua, cá

Giải đáp
Việc ăn chay và kiêng cữ thường đi chung với nhau nhưng là hai việc khác nhau.
Ăn chay vốn là một từ bên Phật Giáo và đã được cha Alexandre de Rhodes giảng trong Từ điển Annam-Bồ Đào Nha – Latinh như sau : Ăn chay. Đích thực có nghĩa là kiêng thịt và cá, nhưng bây giờ để chỉ sự ăn chay của những Kitô hữu. Ăn chay (jejunium) có nghĩa là giới hạn lượng lương thực được ăn vào những ngày cụ thể. Còn kiêng cữ (abstinentia) có nghĩa là từ bỏ một thức ăn khoái khẩu như thịt, cá, tôm…
Ăn chay là việc thực hành phổ biến của hầu hết các tôn giáo. Tuy nhiên, mục đích của việc ăn chay lại không giống nhau. Đối với những tu sĩ Phật Giáo hay nhiều Phật tử có thói quen ăn chay trường là cữ sát sinh không dùng những thức ăn có nguồn gốc từđộng vật hoặc không có sự giết chóc động vật trong quá trình chế biến vì lòng từ bi đối với tất cả mọi loài chúng sinh. Trong khi đó người Công Giáo ăn chay để biểu lộ lòng sám hối, ăn năn, tưởng nhớ đến cuộc khổ nạn của Chúa Kitô. Vì thế mà việc ăn chay hai bên khác nhau nên không thể so sánh vì không cùng mục đích.
Đối với Kitô giáo, ban đầu đó là một việc làm tự nguyện của giáo dân lâu dần mới thành thói quen trong Hội Thánh. Sau đó ăn chay trở thành luật buộc. Việc ăn chay được ấn định cho suốt Mùa Chay. Từ Thế Kỷ V đến Thế Kỷ IX, ngoại trừ ngày Chúa Nhật, mùa này chỉ được dùng một bữa ăn, thường là bữa tối. Không được có thịt, cá trong bữa ăn và có nơi còn cấm cả trứng cũng như các sản phẩm từ sữa. Đầu Thế Kỷ X, bữa này chuyển về buổi trưa. Khoảng Thế Kỷ XIV, buổi tối có thể dùng một bữa ăn nhẹ. Đến thời Trung Cổ thì bãi bỏ luật cấm ăn cá và các sản phẩm từ sữa như bơ, phó mát…
Theo Giáo Luật 1917 thời đó chỉ được dùng một bữa chính ăn no trong các ngày mùa Chay trừ Chúa Nhật và hai bữa ăn khác không có thịt và cũng không ăn nhiều như các bữa ăn thông thường. Các ngày kiêng thịt là các ngày thứ sáu quanh năm còn trong mùa Chay thêm ngày thứ Bẩy (x. Giáo Luật cũ 1250 – 1254).
Luật kiêng cữ nghiêm nhặt vẫn được tuân giữ cho tới ngày 17 tháng 2 năm 1966. Với Tông Hiến Poetemini của Đức Giáo Hoàng Paul VI đã có sự thay đổi về việc ăn chay và kiêng thịt.
Ngày nay, việc ăn chay và đã được giảm bớt đi chỉ còn 2 ngày là Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh theo qui định của Giáo Luật điều 1251 như sau :
Phải kiêng thịt, hay kiêng của ăn nào khác theo qui định của Hội Đồng Giám Mục, các ngày thứ sáu trong năm, trừ khi những ngày ấy trùng với một ngày nào khác trong số những ngày lễ trọng; còn luật kiêng thịt và ăn chay thì phải giữ ngày Lễ Tro và ngày thứ Sáu kính cuộc Khổ Nạn và sự chết của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta.
Bạn có hỏi tại sao ăn chay ít thế chỉ có hai ngày một năm ? Đọc lại lịch sử chắc bạn cũng thấy rằng đã có thời gian việc ăn chay khá nhiệm nhặt. Ăn chay suốt mùa Chay vào thời kỳ mà lương thực không lấy gì làm sung túc lắm. Tuy nhiên, nếu ăn chay trở thành một sự áp đặt cứng ngắt thì cũng tạo ra một sự tuân thủ miễn cưỡng và giả tạo. Đôi khi còn dẫn đến hình thức luồn lách để tránh né thí dụ như như luật không qui định thời gian của bữa ăn nên người ta có thể kéo dài một bữa ăn vài giờ đồng hồ.
Chắc bạn cũng từng gặp trường hợp có những người ăn chay đã phải thức chờ sau 12 giờ đêm ngày thứ Tư lễ tro để ăn cho đỡ đói. Việc ăn chay hẳn không phải lúc nào cũng dễ dàng với nhiều người. Vậy thì việc qui định bắt buộc chỉ còn 2 ngày cho thấy Giáo Hội giảm đi việc bó buộc nhưng vẫn cho bạn được tự do ăn chay thêm vào những ngày bạn muốn hãm mình để giúp bạn làm chủ các bản năng và tiến tới sự tự do nội tâm, diễn tả lòng thống hối và hiệp thông với cuộcTử Nạn của Chúa. Nếu thấy ít, bạn vẫn có thể tự nguyện ăn chay nhiều hơn. Đâu có ai cấm bạn ! Miễn là đừng làm hại sức khoẻ thôi. Đó chính là việc ăn chay tự nguyện như đã được thực hiện thuở ban đầu của Hội Thánh khi chưa có luật buộc.
Về việc kiêng thịt
Điều 1251: Phải kiêng thịt, hay kiêng của ăn nào khác theo qui định của Hội Đồng Giám Mục, các ngày thứ sáu trong năm, trừ khi những ngày ấy trùng với một ngày nào khác trong số những ngày lễ trọng…
Điều 1252: Ai đã trọn 14 tuổi buộc phải giữ luật kiêng thịt; còn luật ăn chay buộc tất cả những người thành niên cho đến khi bắt đầu 60 tuổi. Tuy nhiên, các vị Chủ chăn và cha mẹ phải lo sao để cả những người vị thành niên không buộc ăn chay kiêng thịt cũng được thấm nhuần tinh thần sám hối đích thực.
Điều 1253: Hội đồng Giám mục có thể ấn định rõ hơn luật giữ chay và kiêng thịt, cũng như có thể thay thế toàn phần hay một phần việc kiêng thịt và ăn chay bằng những hình thức sám hối khác, nhất là bằng những việc bác ái và việc đạo đức.
Như vậy mục đích của việc kiêng thịt hay kiêng một thức ăn nào khác là một sự hãm mình, từ bỏ bản thân trong ngày sám hối chung của toàn thể Giáo Hội là ngày thứ sáu. Cho nên điều quan trọng là thấm nhuần tinh thần sám hối như được nói đến trong điều 1252 chứ không chỉ tuân thủ một qui định thuần tuý luật lệ.
Giáo Luật cũng đã đề cập đến việc kiêng một thức ăn khác cũng như có thể được thay thế bằng những việc bác ái và đạo đức theo quyết định của Hội Đồng Giám Mục ( điều 1253). Vì vậy mà có nơi không nói đến kiêng thịt nữa nhưng không vì thế mà không cần nghĩ đến sám hối và làm các việc đạo đức, bác ái… Và như đã bạn thắc mắc kiêng thịt mà lại tìm những món ăn ngon hơn như tôm, cua… mà ăn thì còn đâu là ý nghĩa của ngày thống hối chung và ăn kiêng như thế cũng coi như chưa kiêng gì cả !
Tóm lại
TUỔI GIỮ CHAY: Từ 18 tuổi trọn đến hết 59 tuổi.
TUỔI KIÊNG THỊT: Từ 14 tuổi trở lên
CÁCH GIỮ CHAY: Trong ngày chay chỉ được ăn một bữa no(chọn bữa nào cũng được), còn những bữa khác chỉ được ăn chút ít để bụng còn đói. Trong ngày chay không được ăn vặt như kẹo, bánh v.v
CÁCH KIÊNG THỊT: Cấm ăn thịt loài máu nóng (heo, bò, gà, vịt…) bao gồm thịt và tất cả những thứ khác như tim, gan, lòng chay…. Nhưng được dùng các nước thịt và các đồ ăn có pha chất thịt, như cháo nước thịt. Được ăn cá và loài máu lạnh (như ếch, rùa, sò, cua, tôm). Ngày kiêng thịt cũng được phép dùng trứng và các sản phẩm từ sữa như bơ và phó mát …
NGÀY BUỘC GIỮ CHAY VÀ KIÊNG THỊT : Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh

CuuThe

Hỏi: Tháng 11 dương lịch thường được gọi là tháng các linh hồn, tức là dành để cầu nguyện cho các linh hồn trong luyện ngục. Thế nhưng luyện ngục là gì thưa cha?



– Nếu tôi không lầm thì trong tiếng Việt, chúng ta dùng hai từ đồng nghĩa: luyện ngục hay lửa luyện tội. Xét dưới khía cạnh thần học thì có lẽ hai từ ấy đều không chỉnh, bởi vì “luyện ngục” xem ra nhấn mạnh đến nơi tù ngục giam cầm. Nhưng thử hỏi: làm sao có thể nhốt các linh hồn là loài thiêng liêng được? Chúng ta có thể lấy gông cùm, xích sắt trói buộc thân xác, hoặc xây cất xà lim với tường xi măng cốt thép để nhốt tội nhân, nhưng với loài thiêng liêng thì làm sao mà trói buộc được?

Từ “lửa luyện tội” cũng vậy. Thân xác chúng ta có cảm giác nên mới thấy nóng lạnh, chứ loài thiêng liêng thì đâu có cảm giác. Đó là chưa nói đến thắc mắc của nhiều người về sự khác biệt giữa luyện ngục và hỏa ngục. Nhiều người quan niệm cả hai đều khổ như nhau, chỉ khác ở chỗ là một bên thì tù chung thân, còn bên kia thì tù hữu hạn. Thêm vào đó, có lẽ một phần do các thần thoại của các tôn giáo khác, làm cho óc tưởng tượng còn bày vẽ ra bao thứ ngục hình, dầu sôi, rắn rết, hình cụ tra tấn. Dĩ nhiên là những hình khổ ấy chỉ có thể áp dụng cho những loài có thể xác, chứ không thể áp dụng cho các linh hồn được.

Hỏi: Như vậy có nghĩa là ở dưới luyện ngục làm gì có chuyện cực hình đau khổ. Nói đúng hơn: đâu có luyện ngục giam giữ các linh hồn?

– Nhiều người đã nêu lên những vấn nạn như vậy với những lý do khác nhau. Nếu ai không tin có linh hồn, nghĩa là chết thì hết chuyện, thì dĩ nhiên vấn đề luyện ngục, thiên đàng hay hỏa ngục không được đặt ra. Còn ai cho rằng con người có chết đi nhưng linh hồn bất tử, thì họ sẽ nêu lên câu hỏi: linh hồn đi đâu? Một số tôn giáo cho rằng linh hồn sẽ bàng bạc trên không trung; một số tôn giáo giáo nữa thì cho rằng nó sẽ đầu thai vào kiếp khác.

Hỏi: Còn Ki-tô giáo thì nói sao?

– Tân ước cũng như từ ngữ Ki-tô giáo ở các thế kỷ đầu dùng những từ ngữ rất đẹp: an nghỉ trong Chúa, về trời, về nhà Cha, nhưng không nói rõ là ở nơi nào! Mặt khác, ngay từ Tân ước, chúng ta đọc thấy những đoạn nói rằng không phải ai cũng đáng được hưởng nhan thánh Chúa. Đành rằng những người ác sẽ bị xua đuổi khỏi nhan Chúa; nhưng một số người khác, tuy không bị xếp vào loại người ác, nhưng cũng chưa được thánh thiện, thì phải qua một cuộc thanh luyện.

Hỏi: Thanh luyện bằng cách nào?

– Thật khó mà nói được. Chúng ta đừng quên rằng Tân ước nhiều lần cũng dùng hình ảnh mà chắc rằng chúng ta không thể hiểu theo nghĩa đen được, như khi nói đến ngục thất hay lửa thiêu. Như đã nói ở trên, ngục thất hay lửa thiêu là những cực hình dành cho xác thể, chứ không thể áp dụng cho loài thiêng được. Ví dụ điển hình nhất là trong thư thứ nhất gửi cho tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô ví những người làm việc tông đồ như những người cất nhà: người thì cất bằng vàng bạc đá qúy, người thì dùng gỗ, kẻ khác thì dùng cỏ rơm. Đến khi Chúa đến Người sẽ dùng lửa mà thử nghiệm hết các công trình ấy. Thánh Phao-lô dùng hình ảnh lửa theo nghĩa bóng, ví như lửa dùng để thử vàng thật hay vàng giả. Điều đáng ghi nhận là các Giáo phụ nói đến trạng thái thanh tẩy, hay luyện lọc chứ không nói đến tù ngục (x. 1 Cr 3, 13 -15). Mãi đến thời Trung cổ mới xuất hiện ý tưởng một nơi cho các linh hồn bị giam cầm.

Hỏi: Nói như vậy có nghĩa là ý tưởng luyện ngục do các nhà thần học hay lòng đạo đức bình dân bày đặt ra, chứ đâu buộc phải tin?

– Cần phải phân biệt hai khía cạnh: một đàng là sự thanh luyện, và một bên là hình ảnh diễn tả sự thanh luyện. Giáo hội qua các Giáo phụ và các Công đồng Firenze (1439) và Công đồng Tren-tô (1563) dạy rằng các linh hồn mắc tội nhẹ hoặc chưa đền tội đủ, thì phải trải qua sự thanh luyện trước khi vào Nước Chúa. Chúng ta có thể dâng lời cầu nguyện và dâng lễ hy sinh để giúp đỡ các linh hồn ấy. Điều này nằm trong những tín điều của Giáo hội, và thiết tưởng không có gì khó hiểu. Bởi vì đa số chúng ta tuy không đến nỗi phản nghịch với Chúa, nhưng cũng chưa hoàn thiện đủ để kết hợp với Chúa; chúng ta còn nhiều bất toàn, tình yêu của chúng ta còn vướng víu với bao đam mê,… chính vì vậy mà chúng ta cần được thanh tẩy, luyện lọc để xứng đáng kết hợp với Đấng Toàn Thiện. Sự thanh luyện ấy diễn ra thế nào thì khó mà hình dung được. Chính trong sắc lệnh về đền tội, Công đồng Tren-tô khuyên hãy tránh những hình ảnh nhằm kích thích trí tưởng tượng, ví dụ: hình ảnh tra tấn, ngọn lửa ngùn ngụt bốc cao…

Theo thiển ý, chúng ta cũng cần cẩn thận khi nói đến nơi và thời gian thử luyện. xét về nơi chốn, thì tất nhiên rồi, không thể xây một chuồng cọp để nhốt các linh hồn, và cũng không cần phải chuyên chở tới suối nước nóng để nấu họ, bởi vì đó là những hình ảnh chỉ có giá trị đối với thân xác chứ không áp dụng cho linh hồn.

Về thời gian thì cũng vậy: thời gian năm tháng chỉ có giá trị ở trên đời này, còn đối với Thiên Chúa nó chẳng có giá trị gì. Mặt khác, chúng ta biết có thời gian vật lý (đo lường bằng đồng hồ) và thời gian tâm lý: khi chúng ta mong chờ người yêu đến, thì một phút lâu như cả một giờ, còn một tuần xem ra dài một thế kỷ!

Hỏi: Nhưng nghe nói có linh hồn hiện về than rằng họ bị lửa đốt và bị giam giữ ba bốn chục năm trong luyện ngục, có thật như vậy không?

– Thật là khó nói có những chuyện linh hồn hiện về thực hư thế nào. Dĩ nhiên người thấy một linh hồn thì cũng thấy một hình thù nào đó, chứ làm sao thấy được chính linh hồn. Mặt khác, nếu linh hồn muốn nói chuyện với chúng ta thì phải dùng ngôn ngữ của chúng ta mới hiểu được, trong số đó có thời gian năm tháng. Những ngôn ngữ đó đúng với sự thực như thế nào thì quả là khó kiểm chứng. Khi đã ra khỏi cuộc đời này rồi thì cũng là ra khỏi chiều kích thời gian.

Hỏi: Nói như vậy thì các linh hồn nơi luyện ngục đâu có biết gì là đau khổ, bởi vì đau khổ chỉ có ảnh hưởng đến thân xác thôi?

– Tôi nghĩ rằng các linh hồn ở luyện ngục có phần sướng, xét như là họ không sợ đi lùi lại nữa, họ được bảo đảm sớm muộn sẽ được về với Chúa. Tuy nhiên, chính cái sướng ấy làm cho họ khổ. Chúng ta cứ tưởng tượng cái khổ của những anh chàng si tình thì biết; họ cứ mất ăn mất ngủ vì tưởng nhớ đến người yêu mà họ không thể gặp được; giá như họ không yêu thì họ đâu có đau khổ như vậy!
Có lẽ đây là cực hình nhất cho các linh hồn trong luyện ngục: họ cảm thấy mình còn quá nhơ nhớp chưa đáng được người yêu đoái đến, và càng khắc khoải thì càng khổ. Đó chỉ là một hình ảnh để so sánh thôi. Trên thực tế khi đọc hạnh các thánh, chẳng hạn như thánh Gio-an Thánh Giá hay gần đây là thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, chúng ta thấy các ngài kể lại những cuộc thanh tẩy mà các ngài phải trải qua trước khi tiến đến giai đoạn thần bí, các ngài nói rằng, những đau khổ do bệnh tật thân xác, do những vu khống cáo gian thì không thấm vào đâu so với nhưng thanh luyện của các nhân đức tin, cậy, mến.
Từ đó, ta có thể suy ra những đau khổ tinh thần mà các linh hồn phải trải qua trong thời gian thanh luyện trước khi về hưởng nhan thánh Chúa.

Hỏi: Để kết luận, tin hay không tin có luyện ngục thì có ảnh hưởng gì đến cuộc sống?

– Nếu đem luyện ngục hay hỏa ngục như một thứ cực hình để đe dọa cho người ta sợ mà tránh tội thì cũng là một điều tốt rồi. Nhưng thiết tưởng cần phải đi xa hơn nữa. Cần phải nói rằng nếu chỉ giữ mình sạch tội mà thôi thì chưa đủ để kết hợp với Chúa; nhưng còn phải thực hiện đức ái đến mức anh hùng, nghĩa là dứt bỏ mọi quyến luyến với thụ vật để chỉ gắn bó với một mình Chúa. Bao lâu chưa đến mức độ ấy, linh hồn cần phải được thanh luyện, hoặc ở đời này hoặc ở đời sau.
Và sau cùng việc cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục là một việc đáng ca ngợi, vì đó là một nghĩa cử cụ thể nhất của tình liên đới bác ái.

Lm. Giu-se Phan Tấn Thành O.P.

Giáo xứ Ngô Khê

{facebook#https://www.facebook.com/profile.php?id=100011937845638} {twitter#https://twitter.com/giaoxungokhe} {google-plus#https://plus.google.com/u/0/113369306614831660046} {youtube#https://www.youtube.com/c/Gi%C3%A1oX%E1%BB%A9Ng%C3%B4Kh%C3%AA}

Ban Quản Trị Website

Tên

Email *

Thông báo *

Hình ảnh chủ đề của friztin. Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget